Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

Học chay trong trường tạm.

Học chay  xuân đường dạy phương ngữ (tiếng dân tộc) cho học sinh THCS và THPT dân tộc thiểu số tại các huyện miền núi ở Thừa Thiên - Huế và Quảng Trị như “tay không bắt giặc”; còn các em học trò thì trong tình trạng… trắng tay đến trường vì giáo trình, tài liệu phục vụ dạy và học đều chưa có

Học chay trong trường tạm

Ngoài một số em đã qua lớp mầm non thì biết tí đỉnh tiếng Việt, còn phần lớn các em chỉ dùng tiếng mẹ đẻ. Để các em hiểu và học được, đầu tiên thầy cô phải thông thạo tiếng bản địa nhưng thực tế phần lớn thầy đứng lớp lại là người Kinh. Khắc phục tình trạng này, trước năm học 2013 - 2014, Sở GD-ĐT tỉnh Quảng Trị kết hợp với Phòng GD-ĐT huyện miền núi Đakrông mở lớp dạy tiếng Bru-Vân Kiều cho 80 cán bộ, đay đả là người miền xuôi trong 3 tháng.

Nói là trường cho “oai” chứ đó là ngôi nhà của gia đình ông Đinh Văn Đất cho Phòng Giáo dục huyện Sơn Tây thuê với giá rẻ để con em đồng bào dân tộc Cadong theo học. Việc đi lại cũng khó khăn nên tình trạng học trò bỏ học giữa chừng hoặc vắng cách nhật khá cao”.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Sĩ Huấn, Phó Trưởng phòng GD-ĐT huyện Đakrông, để nâng cao chất lượng dạy học ở miền núi cần xây dựng kế hoạch bổ dưỡng chứng chỉ tiếng Bru-Vân Kiều cho những phụ thân miền xuôi lên đây công tác. Trong đó, khoảng 80% học trò người Vân Kiều. Đã hơn chục năm nay, căn nhà của gia đình ông Đinh Văn Đỉa trở thành ngôi trường bất đắc dĩ cho học sinh nơi đây.

Theo thống kê của Phòng GD-ĐT huyện Sơn Tây, năm học 2013 - 2014 có 31 dài chưa có chỗ học, phải học nhờ, học tạm, trong đó có 12 ngôi trường phải thuê nhà dân học cho khoảng 1.

Và cấp thiết phải phổ cập măng non cho trẻ 5 tuổi. Trường không ra trường, lớp không ra lớp. Cảnh này đã diễn ra nhiều năm nay rồi”. Mỗi năm phòng giáo dục huyện phải bỏ ra số tiền khoảng 60 triệu đồng đấy. Để minh chứng, ông Phải “giới thiệu” ngay điểm Trường măng non Đăk Rin ở thôn Đăk Kênh, xã Sơn Dung. HÀ MINH - VĂN THẮNG.

Đây quả là thách thức lớn đối với các kiền người Kinh được cắt cử đứng lớp, đặc biệt là những cô giáo trẻ mới tốt nghiệp ra trường. Cô Trương Thị Thu Hiền, thầy giáo Trường Tiểu học Tà Long, tâm tình: “nghiêm phụ không có giáo trình, tài liệu soạn theo phương ngữ nên dạy tiếng Việt cho các em gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở môn Toán.

500 học sinh. Cô giáo Phạm Thị Bích Ngân đã có 3 năm gắn bó với nghề “gõ đầu trẻ” ở vùng cao Sơn Tây buồn thiu mỗi khi đến lớp: “Chuyện học của các em học sinh trên này nhiêu khê lắm. Nhìn những đứa trẻ hồn nhiên vô tư bắt nhịp theo cô giáo hát bài “Em yêu trường em” mà ái ngại.

Một khi các em xúc tiếp và nói được tiếng phổ biến thì quá trình học lớp 1 sẽ nắm bắt được nội dung, học nhanh và hiệu quả hơn”. Ảnh: HÀ MINH  Học nhờ  Ông Hà Phải, Phó Trưởng phòng Giáo dục huyện Sơn Tây (Quảng Ngãi), khai mạc câu chuyện chẳng cần che giấu: “Phải chạy đôn chạy đáo thuê nhà dân để học trò có phòng học.

Từ xã Sơn Dung, chúng tôi ngược về xã Sơn Tân, đến điểm trường ở thôn Tà Dô và vào lớp học mẫu giáo Tập đoàn 21. Không có bàn ghế, các em ngồi học trên tấm bạt tạm thời. Không có bàn ghế, học sinh mẫu giáo điểm Trường Tập đoàn 21 (Sơn Tây, Quảng Ngãi) phải ngồi dưới bạt để học. Khi các em đếm số bằng tiếng Bru-Vân Kiều thì được nhưng bằng tiếng Việt thì ngọng líu ngọng lo… Nhiều nghiêm đường trẻ phải nhờ “phiên dịch” tại chỗ để tương trợ trong các tiết học.

Thấy các em phải học tập trong môi trường như vậy, mình buồn nhưng đành bất lực”. “Ngôi trường” nằm cheo leo trên một con dốc cao. Tại Trường Tiểu học Tà Long (huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị) năm học này có 108 học trò lớp 1 với 9 lớp.